Bài đăng

Cáo đảo

Hình ảnh
 Cáo đảo (Danh pháp hai phần: Urocyon littoralis) là một loài cáo nhỏ có mặt tại 6 trong 8 hòn đảo của quần đảo Channel và các vùng bờ biển lân cận California. Có 6 phân loài của cáo đảo, và mỗi phân loài sống trên một hòn đảo, phản ánh lịch sử tiến hóa của nó tại đây. Cáo đảo còn được biết đến với tên gọi khác như cáo bờ biển, cáo đuôi ngắn, cáo xám đảo, cáo quần đảo Channel, cáo xám quần đảo Channel, cáo đảo California Cáo đảo thuộc chi Urocyon, cùng chi với loài cáo xám đại lục. Kích thước của chúng nhỏ do việc bị teo nhỏ bởi hạn chế về môi trường sinh sống, phạm vi sinh sống bị cô lập nên không có khả năng miễn dịch nên dễ bị các ký sinh trùng và các bệnh truyền nhiễm từ đất liền làm tổn thương, nhất là các bệnh từ chó nhà. Ngoài ra, tác động của con người tới tự nhiên của quần đảo Channel trong những năm thập niên 1990, cùng với việc chúng bị một số loài động vật săn mồi ăn thịt như đại bàng vàng khiến số lượng loài bị suy giảm nhanh chóng. Tại 4 hòn đảo cũng là 4 phân loài cá...

Cáo xám

Hình ảnh
 Cáo xám (Urocyon cinereoargenteus) là một loài động vật có vú trong họ Chó, bộ Ăn thịt. Loài này được Schreber mô tả năm 1775. Chúng phân bố rộng khắp nửa nam của Bắc Mỹ từ nam Canada đến phía bắc của Nam Mỹ (Venezuela và Colombia). Loài này và họ hàng gần của nó Urocyon littoralis (cáo đảo) là những thành viên còn sinh tồn duy nhất trong chi Urocyon, chi này được xem là nhóm nguyên thủy nhất của các loài trong họ chó còn sinh tồn Nó từng là loài cáo phổ biến nhất vùng phía đông, và vẫn được tìm thấy ở đó, với sự phát triển của con người làm cho cáo đỏ trở nên chiếm ưu thế hơn. Các bang vùng Thái Bình Dương vẫn có loài cáo xám này chiếm phổ biến. Cáo xám xuất hiện vào thế Pliocen giữa cách nay 3,6 triệu năm với bằng chứng hóa thạch đầu tiên được tìm thấy ở tầng 111 Ranch dưới, Quận Graham, Arizona cùng với các động vật có vú hiện đại như giant sloth, Cuvieronius giống như voi, Large-headed llama, và ngựa nhỏ thời kỳ đầu thuộc chi Nannippus và Equus. Các phân tích di truyền của loà...

Cáo hoa râm

Hình ảnh
 Cáo hoa râm (danh pháp hai phần: Lycalopex vetulus) là một loài động vật có vú trong họ Chó, bộ Ăn thịt. Loài này được Lund mô tả năm 1842. Chúng là loài bản địa Brasil. Cáo hoa râm là loài hoạt động về đêm, và phần lớn sống đơn độc ngoài mùa sinh sản. Nó chủ yếu ăn côn trùng, đặc biệt là mối và bọ hung nhưng cũng ăn gặm nhấm, chim nhỏ và trái cây. Các cá thể có phạm vi sinh sống thay đổi, tùy thuộc vào môi trường địa phương, nhưng trung bình 48 hécta (120 mẫu Anh) đã được báo cáo từ các đồng cỏ tại Mato Grosso.

Cáo sa mạc Sechura

Hình ảnh
 Cáo sa mạc Sechura (tên khoa học: Lycalopex sechurae) là một loài động vật có vú trong họ Chó, bộ Ăn thịt. Loài này được Thomas mô tả năm 1900.[1] Loài cáo này được tìm thấy ở sa mạc Sechura ở tây nam Ecuador và tây bắc Peru.

Cáo đồng cỏ Nam Mỹ

Hình ảnh
 Cáo đồng cỏ Nam Mỹ hay Cáo Pampa (Lycalopex gymnocercus) (tiếng Anh: Pampas Fox) là một loài động vật có vú trong Họ Chó của Bộ Ăn thịt. Loài này được G. Fischer mô tả năm 1814. Loài này có nguồn gốc từ các đầm lầy Nam Mỹ, có thể được tìm thấy ở miền bắc và miền trung Argentina, Uruguay, miền đông Bolivia, Paraguay và miền nam Brazil. Chúng thích nghi với môi trường sống đồng hoang mở, thường gần với đất nông nghiệp, nhưng cũng có thể được tìm thấy trong các khu rừng núi, cây bụi khô, và các sinh cảnh đất ngập nước. Chúng phổ biến nhất ở những nơi có độ cao dưới 1.000 mét, nhưng có thể sống ở những đồng cỏ cao lên đến 3.500 mét. Năm phân loài đã được công nhận, mặc dù phạm vi phân bố của từng loài vẫn chưa rõ, và phạm vi phân bố của ba trong năm loài này nằm bên ngoài phạm vi của các loài ngày nay.

Cáo xám Nam Mỹ

Hình ảnh
 Cáo xám Nam Mỹ (danh pháp hai phần: Lycalopex griseus) là loài động vật thuộc họ Chó. Cáo xám Nam Mỹ sống ở miền nam Nam Mỹ, đặc biệt ở Argentina và Chile. Phạm vi của nó bao gồm một dải, cả hai mặt của dãy núi Andes giữa song song với 17º B (phía bắc Chile) và 54 º N (Tierra del Fuego). Ở Argentina, loài này sống ở khu vực phía Tây bán khô cằn của đất nước, từ các mũi núi Andes (khoảng 69 º T) đến kinh tuyến 66 º T. Phía nam từ sông Río Grande, phân bố của loài cáo này mở rộng đến bờ biển Đại Tây Dương. Tại Chile, nó hiện diện trong cả nước. Sự hiện diện của nó tại Peru đã được đề cập, cho đến nay, tuy nhiên, đã không có xác nhận về điều này. Cáo xám Nam Mỹ được du nhập vào quần đảo Falkland vào cuối thập kỷ 1920 - đầu thập kỷ 1930. Có những quần thể cáo trên đảo Beaver, đảo Weddell, và một số hòn đảo nhỏ.

Cáo Darwin

Hình ảnh
 Cáo Darwin hay sói nhỏ (danh pháp hai phần: Lycalopex fulvipes) là loài động vật thuộc họ Chó. Cáo Darwin lần đầu tiên được thu thập từ đảo San Pedro gần Chile bởi nhà tự nhiên học Charles Darwin vào năm 1834. Từ lâu, loài này được coi là một phân loài của cáo xám Nam Mỹ (L. griseus); tuy nhiên, sự phát hiện của một quần thể cáo Darwin ở vườn quốc gia Nahuelbuta vào năm 1990 và phân tích gen khẳng định cáo Darwin là một loài riêng. Cáo Darwin ăn tạp. Loài này ăn động vật có vú, bò sát, côn trùng và giun, thỉnh thoảng ăn hoa quả, chim, động vật lưỡng cư và xác chết.